24. Sớ Cúng Quan Thánh III
(Ứng Tích Nan Lường)
Nguyên văn:
伏以
應跡難量、永護圓乘之敎義、威權莫測、恆懷正直之心思、珍寶招持、助禪門而善應、威神顯赫、保梵宇以光輝。拜疏爲越南國...省...縣[郡]...社...村、本寺奉
佛聖修香獻供恭遇關聖帝君菩薩慶誕之辰、祈陰超陽泰事。今弟子...等、惟日拜干
聖德威光、俯垂炤鑒。竊念、法王座下、身爲護法之神、至寶臺前、品列扶持之位、外魔永鎭、摧邪輔正安僧、內障減消、除咎錯安護敎。茲者恭陳素品以獻花筵、虔誠諷誦大乘法寶尊經...加持消災諸品神咒、集此善因、祈增福壽。今則謹具疏文、和南拜奏...伏願、忠貞不絕、桃園結義恆新、保護無虧、祇樹慈風永扇、他心速曉、有感皆通。仰賴
聖德扶持之加惠也。謹疏。
佛曆...歲次...年...月...日時、弟子眾等和南上疏
(疏)奉 白佛金章 弟子眾等和南上疏
Phiên âm:
Phục dĩ1
Ứng tích nan lường, vĩnh hộ viên thừa chi giáo nghĩa; uy quyền mạc trắc, hằng hoài chánh trực chi tâm tư; trân bảo chiêu trì, trợ Thiền môn nhi thiện ứng; uy thần hiển hách, bảo Phạm vũ dĩ quang huy.
Bái sớ vị: Việt Nam quốc ... Tỉnh … Huyện (Quận) … Xã … Thôn, bổn tự phụng Phật Thánh tu hương hiến cúng cung ngộ Quan Thánh Đế Quân Bồ Tát Khánh Đản chi thần, kỳ âm siêu dương thái sự. Kim đệ tử … đẳng, duy nhật bái can, Thánh đức uy quang, phủ thùy chiếu giám.
Thiết niệm: Pháp Vương2 tòa hạ, thân vi Hộ Pháp chi thần; chí bảo đài tiền, phẩm liệt phò trì chi vị; ngoại ma vĩnh trấn, tồi tà phụ chánh an tăng; nội chướng hàm tiêu, trừ cữu thác an hộ giáo. Tư giả cung trần tố phẩm, dĩ hiến hoa diên, kiền thành phúng tụng Đại Thừa Pháp Bảo Tôn Kinh, gia trì Tiêu Tai Chư Phẩm Thần Chú, tập thử thiện nhân, kỳ tăng phước thọ. Kim tắc cẩn cụ sớ văn, hòa nam bái tấu …
Phục nguyện: Trung trinh bất tuyệt, Đào Viên kết nghĩa3 hằng tân; bảo hộ vô khuy, Kỳ Thọ4 từ phong vĩnh phiến; tha tâm tốc hiểu, hữu cảm giai thông. Ngưỡng lại Thánh đức phò trì chi gia huệ dã. Cẩn sớ.
Phật lịch … Tuế thứ ... niên ... nguyệt ... nhật ... thời.
Đệ tử chúng đẳng hòa nam thượng sớ.
Dịch nghĩa:
Cúi nghĩ:
Ứng tích khó lường, mãi hộ Đại Thừa bao giáo nghĩa; quyền uy khôn xiết, thường mang chánh trực những tâm tư; trân bảo đem về, giúp Thiền môn hưng thạnh; oai thần hiển hách, hộ Phạm vũ thêm sáng tươi.
Nay tại chùa … ở tại Thôn ..., Xã …, Huyện …, Tỉnh …, nước Việt Nam, vâng lời Phật dạy, dâng hương cúng lễ, gặp dịp Khánh Đản Bồ Tát Quan Thánh Đế Quân, nguyện cầu âm siêu dương thái. Đệ tử chúng con …, hôm nay vái lạy, oai quang Thánh đức, xót thương chứng giám.
Nép nghĩ: Pháp Vương tòa dưới, thân làm Hộ Pháp tôn thần; chí bảo trước đài, la liệt hộ trì phẩm vị; ngoại ma mãi trấn, dẹp tà hộ chánh yên tăng; nội chướng đều tiêu, trừ tội bình yên hộ đạo. Nay xin bày vật phẩm mọn, dâng cúng lễ trên, thành tâm trì tụng kinh điển pháp bảo Đại Thừa, các phẩm Thần Chú Tiêu Tai Cát Tường, lấy nhân lành nầy, cầu thêm phước thọ. Nay xin dâng trọn sớ văn, thành kính thưa thỉnh …
Cúi mong: Lòng trung bất tuyệt, đào viên kết nghĩa luôn tươi; bảo hộ không ngừng, gió từ Kỳ Viên luôn mát; tâm người sớm ngộ, có cảm đều thông. Ngưỡng trông đức Thánh, phò trì ban cho ân huệ. Kính dâng sớ.
Phật lịch … Ngày ... tháng ... năm ...
Đệ tử chúng con thành kính dâng sớ.
Phần chú thích:
- Cũng có lòng văn Phục Dĩ tương tợ như vậy: “Ứng tích nan tri, vĩnh hộ viên thừa chi giáo; thi quyền mạc trắc, thường hoài chánh chơn chi tâm; trân bảo chiêu trì, phổ trợ Thiền môn thiện ác; uy linh hiển hách, dịch tăng Phạm sát quang huy (應跡難知、永護圓乘之敎、施權莫測、常懷正直之心、珍寶招持、普助禪門善惡、威靈顯赫、奕增梵剎光輝, ứng tích khó hay, mãi hộ Đại Thừa giáo nghĩa; ban quyền khôn xiết, thường mang chánh trực tâm tư; trân bảo đem về, giúp khắp Thiền môn thiện ác; oai thần hiển hách, hộ cùng Phạm vũ sáng tươi).”
- Pháp Vương (s: dharma-rāja, 法王): vua pháp, tôn xưng thường dùng để chỉ cho chư Phật. Vương có nghĩa tối thắng, tự tại; đức Phật là chủ tể của Pháp, có thể giáo hóa chúng sanh một cách tự tại, nên được gọi là Pháp Vương. Như trong Vô Lượng Thọ Kinh (無量壽經, Taishō No. 12) quyển Hạ có câu: “Phật vi Pháp Vương, tôn siêu chúng Thánh, phổ vi nhất thiết thiên nhân chi sư (佛爲法王、尊超衆聖、普爲一切天人之師, Phật là Pháp Vương, được tôn kính hơn các bậc Thánh, là vị thầy của khắp hết thảy trời người).” Hay như trong Thích Ca Phương Chí (釋迦方誌, Taishō No. 51) có giải thích rằng: “Phàm nhân cực vị, danh viết Luân Vương; Thánh nhân cực vị, danh viết Pháp Vương (凡人極位、名曰輪王、聖人極位、名曰法王, ngôi vị cao nhất của người phàm gọi là Luân Vương, ngôi vị cao nhất của bậc Thánh là Pháp Vương).” Trong bài xưng tán đức Phật có câu: “Pháp Vương vô thượng tôn, Tam Giới vô luân thất, thiên nhân chi đạo sư, Tứ Sanh chi từ phụ (法王無上尊、三界無倫匹、天人之導師、四生之慈父, đấng Pháp Vương vô thượng, Ba Cõi chẳng ai bằng, thầy dạy khắp trời người, cha lành chung Bốn Loại).” Hay như trong Tây Du Ký (西遊記), hồi thứ 64 lại có đoạn: “Trượng tích Tây lai bái Pháp Vương, nguyện cầu diệu điển viễn truyền dương, kim chi tam tú thi đàn thoại, bảo thọ thiên hoa liên nhụy hương, bách xích cán đầu tu tấn bộ, thập phương thế giới lập hành tàng, tu thành ngọc tượng trang nghiêm thể, Cực Lạc môn tiền thị đạo trường (杖錫西來拜法王、願求妙典遠傳揚、金芝三秀詩壇瑞、寶樹千花蓮蕊香、百尺竿頭須進步、十方世界立行藏、修成玉象莊嚴體、極樂門前是道塲, quảy trượng qua Tây lễ Pháp Vương, nguyện mong kinh điển khắp truyền dương, cành vàng tam tú thơ đàn lạ, cây báu ngàn hoa sen nhụy hương, trăm bộ đầu sào nên bước tiếp, mười phương thế giới vững trụ thường, tu thành voi ngọc trang nghiêm dáng, Cực Lạc cửa nầy chính đạo trường).”
- Đào Viên Kết Nghĩa (桃園結義): còn gọi là Đào Viên Tam Kết Nghĩa (桃園三結義), Đào Viên Minh (桃園盟), là thuật ngữ xuất xứ từ Tam Quốc Diễn Nghĩa (三國演義), nói lên câu chuyện kết nghĩa huynh đệ của ba nhân vật Lưu Bị (劉僃, 161-223), Quan Vũ (關羽, ?-219) và Trương Phi (張飛, ?-221) trong vườn đào của Trương Phi. Như trong Tam Quốc Diễn Nghĩa, hồi thứ 15 có câu: “Ngô tam nhân Đào Viên kết nghĩa, bất cầu đồng sanh, đản nguyện đồng tử (吾三人桃園結義、不求同生、但願同死, chúng ta ba người kết nghĩa vườn đào, chẳng mong sinh cùng, chỉ nguyện chết cùng).”
- Kỳ Thọ (祇樹): tức Kỳ Thọ Cấp Cô Độc Viên (祇樹給孤獨園), hay Kỳ Hoàn Tinh Xá (p: Jetavana Anāthapiṇḍikārāma, 祇洹精舍), còn gọi là Kỳ Viên Tinh Xá (祇園精舍), là tên gọi của tinh xá nằm ở Thành Xá Vệ (s: Śrāvastī, p: Sāvatthī, 舍衛城), kinh đô của nước Kiều Tát La (s: Kauśala, p: Kosala, 憍薩羅) vào thời Ấn Độ cổ đại. Đức Phật đã trãi qua hơn 20 năm vào cuối đời ngài ở tại đây, và khoảng 7, 8 phần kinh điển hiện tại đều được ngài thuyết giảng tại nơi nầy. Cụm từ “Kỳ Thọ từ phong vĩnh phiến, tha tâm tốc hiểu (祇樹慈風永扇、他心速曉)” trong lòng văn sớ trên có nghĩa là ngọn gió từ bi của giáo pháp do đức Phật đã từng thuyết giảng tại Kỳ Thọ Cấp Cô Độc Viên vẫn luôn thổi mát, đem lại biết bao an lạc, lợi ích cho chúng sanh và làm cho tâm người nghe mau chóng chuyển hóa, giác ngộ.